Mặc dù bệnh trứng cá không gây hiểm đến tính mạng của bệnh nhân, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn lên chất lượng cuộc sống khi mà bệnh chính yếu gặp ở lứa tuổi dậy thì. Bệnh gây cảm giác bất an, bối rối khi giao tế, thậm chí có thể gây ra tình trạng trầm cảm.
Điều trị mụn trứng cá là một quá trình liên tục. toàn bộ những phương pháp điều trị mụn trứng cá cần làm là ngăn những đợt mụn mới bộc phát. Những vết tích do mụn trứng cá gây ra cần phải được chữa lành và cải thiện theo thời kì.
Vì sao bị mụn trứng cá?
Có nhiều nguyên nhân, trong đó do tác động của một chất nội tiết sinh dục, thành thử mụn trứng cá là bệnh rất phổ quát ở tuổi dậy thì. Đây chính là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển các thương tổn trứng cá. Da nhờn, bóng như có dầu, đốn ở hai mũi, hai má và phần trên ngực. Sừng hóa phễu làm tắc nghẽn đường ra, gây đọng chất bã nhờn. Viêm nang lông do vi trùng Propionibacterium acnes.
Mụn trứng cá có thể xuất hiện do trầy xước, đây là dạng trứng cá thường gặp ở những cô gái trẻ, có lề thói hay cạo trứng cá nhỏ, biến dạng thành trầy xước, đóng mày, để lại sẹo gây mất thẩm mỹ.
Ngoài ra, mụn trứng cá còn có thể xuất hiện sau khi sử dụng một số loại thuốc: thuốc ngừa thai, corticoides, thuốc kháng lao, vitamin B12, thuốc chống động kinh, thuốc chống trầm cảm, các thuốc ức chế miễn dịch.
Chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, hợp lý, ăn nhiều trái cây tươi, uống đủ nước giúp hạn chế mụn trứng cá.
diễn đạt đa dạng
Ở lứa tuổi này, mụn trứng cá có bộc lộ rất đa dạng, nhân trứng cá: gồm hai loại: Mụn đầu trắng - những điểm nhỏ màu trắng; mụn đầu đen - là những chấm đen, từ 1-3mm, khi nặn với ngón tay sẽ ra một sợi nhỏ chất bã màu vàng có đầu màu đen.
Nang nhỏ - tổn thương nhô cao nhẹ, màu trắng, đường kính khoảng 2-3mm, thường ở hai má và cằm; Sẩn - vùng da nhô cao, đường kính nhỏ hơn 5mm, màu đỏ, chắc, đôi khi bóp đau; mụn mủ - thường là những sẩn có chứa mủ (mủ ở phần đỉnh của sẩn); nốt - tổn thương viêm có diễn tiến mưng mủ và để sẹo. Đường kính lớn hơn 10mm, thường gặp trong mụn trứng cá nặng...
Cần kiên trì khi chữa bệnh
Khi bị mụn nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt, người bệnh cần điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Tùy từng trường hợp mà các bác sĩ có thể chỉ định hợp. Về điều trị tại chỗ, các thầy thuốc sẽ chỉ định thuốc bôi, có nhiều lọai thuốc bôi, tùy theo tình trạng của người bệnh mà thầy thuốc có thể kê những loại thuốc bôi hoặc thuốc uống thích hợp.
Ngoài ra, các bác sĩ sẽ chỉ định những phương pháp trị liệu khác: có thể sử dụng các liệu pháp như ánh sáng xanh, laser, để tương trợ việc điều trị mụn trứng cá.
Chăm sóc da đúng cách là một trong những bước vô cùng quan yếu trong quá trình điều trị mụn trứng cá: Khi bị mụn, cần bỏ thói quen sờ tay lên mặt, nặn, hút, hoặc lể mụn vì sẽ gây đỏ và tạo sẹo trên da.
Cần tránh sử dụng các sản phẩm gây bít tắc lỗ chân lông như dùng mỹ phẩm, đội nón chặt, để tóc che phủ mặt trong thời kì dài, đổ mồ hôi nhiều.
tuyển lựa các sản phẩm làm sạch, dưỡng da hạp: các sản phẩm làm sạch nhẹ nhàng không gây kích ứng cho da, không chứa cát nhám; các sản phẩm dưỡng da có chú giải “non - acnegenic” (không tạo mụn) hoặc “non - comedogenic” (không tạo cồi). Nên rửa mặt bằng nước sạch 2 - 3 lần mỗi ngày. Khi làm sạch da không nên dùng khăn chà xát vì như thế sẽ làm trầy xước da mà chỉ nên rửa nhẹ nhõm bằng tay, sau đó thấm khô nước bằng khăn sạch.
Chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, hợp lý bằng cách có chế độ ăn giảm ngọt và béo, ăn nhiều trái cây tươi, nhất là những loại quả có màu đỏ như dâu tây, dưa hấu. Hạn chế các sản phẩm sữa có nguồn gốc động vật. Ngủ đúng giờ, tránh thức khuya. Tạo một đời sống ý thức lành mạnh, hạn chế stress và mất ngủ.
Uống đủ nước giúp hạn chế mụn trứng cá.
Bảo vệ da khỏi ánh nắng: hạn chế đi nắng; đeo khẩu trang; đội nón rộng vành bằng vải màu sậm; bôi kem chống nắng. Nên kiên trì đi tái khám đúng theo lời dặn của bác sĩ da liễu.
Không nên tự tiện dùng thuốc theo lời khuyên của bạn bè, người quen, vị việc điều trị rất khác nhau giữa bệnh nhân này và bệnh nhân khác, nó phụ thuộc vào tuổi và giới tính, các yếu tố nguy cơ, đặc điểm da, loại mụn...
Để mụn trứng cá không còn là nỗi ám ảnh của tuổi dậy thì, ngoài việc tuân theo một chế độ điều trị ăn nhập, chính bản thân mỗi người bệnh còn phải có một chế độ sinh hoạt ăn uống, ngơi nghỉ thật hợp lý, lành mạnh.
BSCK1. Nguyễn Vũ Nguyên
0 nhận xét:
Đăng nhận xét